Thursday, January 21, 2016

20.- KHUYẾN ĐẠO THI VĂN



20.- KHUYẾN ĐẠO THI VĂN

THI
HUỆ chiếu điển quang rọi ánh mầu,
MINH truyền giáo lý khắp năm châu,
CHƠN như êm lặng đàn thanh tịnh,
TIÊN xuất chân linh khỏi họa sầu.
      Bần Đạo chào chư phận sự tịnh tâm an tọa.
THI
Họa sầu chìm đắm giữa sông mê,
Tỉnh ngộ khuyên mau bước trở về,
Về chốn cung tiên vui thắng cảnh,
Cảnh trần ràng buộc chớ ham mê.
Ham mê chi thế mảng tranh đua,
Bả lợi mùi danh mãi chát chua,
Đạo đức quên tầm về cựu vị,
Đời là kiếp tạm chớ hơn thua.
Hơn thua chi lắm kiếp phù sinh,
Đạo đức chuyên lo gắng giữ gìn,
Hỏi lại trăm năm ai hưởng trọn,
Cần tu giải thoát lại Tây Kinh.
Tây Kinh là chỗ rất thảnh thơi,
Mê đắm làm chi cõi khổ đời,
Đời tạm, thác về, nơi sống gởi,
Mê trần phải chịu cảnh lưng vơi.
Lưng vơi thế cuộc buổi tang điền,
Vay trả trái oan lẽ tự nhiên,
Một kiếp công phu xong kiếp nợ,
Đắc thành Đạo vị thú trường miên.
THI BÀI
      Đạo vô thượng chơn không vi diệu,
      Cần để tâm kiếm hiểu thật hành,
            Đời cùng chuyển đạo Tam thanh,
Dạy dân thoát tục khỏi gành sông mê.
      Mau hồi tỉnh lo về tiên cảnh,
      Cõi trần ai ấm lạnh bất thường,
            Riêng than kìa cuộc tang thương,
Dân sanh thảm lệ đôi đường chia phôi.
      Chốn Bồng đảo say mùi thú vị,
      Cõi sơn hà bích thủy sơn xuyên,
            Lo tu trở lại đào nguyên,
Thoát vòng cương tỏa về miền Bồng Lai.
      Cõi giả tạm trần ai khổ não,
      Mau lánh tìm học đạo vô vi,
            Học cầu cách vật trí tri,
Hiểu tường mọi lẽ đường đi lánh trần.
      Đạo dạy đời tân dân minh đức,
      Đạo dạy người thoát vực ái hà,
            Đường đời thấm lệ đôi ba,
Càng mê đắm lắm càng sa khổ hình.
      Lò tạo hóa thinh thinh vô thượng,
      Đạo không hình mường tượng vô vi,
            Kêu ca quần chúng mau đi,
Đi về học đạo huyền vi siêu hình.
      Cuộc biến thiên thình lình khó hiểu,
      Ráng cần lo nương níu đạo mầu,
            Làm sao tránh họa đáo đầu,
Tang thương thời cuộc bể dâu không chừng.
      Kêu hòa hiệp Bắc, Nam, Trung lại,
      Học đạo mầu hoán cải đời suy,
            Cho người rõ biết đường đi,
Đi cho đến chốn trường thi đại đồng.
      Ngày đại hội Hoa Long khai diễn,
      Khắp càn khôn chuyển biến họa đồ,
            Ai còn gìn đạo hư vô,
Dương sanh âm tận cam lồ cứu nguy.
      Hiệp tam bửu ngũ quy vận chuyển,
      Chuyển long kỳ tân tiến minh châu,
            Kim quang chiếu diệu hoàn cầu,
Lập nên quốc đạo ngũ châu tương đồng.
      Nhìn hoàn cảnh trời Đông ủ dột,
      Kiếp đời còn tan hợp bi quan,
            Lai rai tuyết bủa khắp ngàn,
Sơ rơ vạn vật đời tàn quạnh hiu.
      Cảnh hoàng hôn mây chiều bao phủ,
      Vọng thu không nhịp đủ ba hồi,
            Bên thềm dế khóc than ôi!
Đổ quyên trỗi nhịp, nhịp rồi tàn canh.
      Trống lầu giục Nam thanh tỉnh mộng,
      Tỉnh mà coi khổ thống vì đâu,
            Biết rồi thức tỉnh quày đầu,
Quày đầu tự tỉnh ngỏ hầu tu chơn.
THI VÔ VI
(Thập thủ liên hoàn)
Lo tu đặng thấu máy huyền vi,
Đắc đạo thì,
Lên chín bậc,
Vượt bôn phi.
(Đọc thành bài thi tứ tuyệt:)
Lo tu đặng thấu máy huyền vi,
Thấu máy huyền vi đắc đạo thì,
Vi đắc đạo thì lên chín bậc,
Thì lên chín bậc vượt bôn phi.

Bôn phi đắc ngộ đến cung tiên,
Chứng thượng thiên,
Thân bất toại,
Hưởng trường miên.

Trường miên vĩnh viễn chẳng luân hồi,
Thảm lắm ôi,
Đày đọa mãi,
Kiếp luân hồi.
Buông trôi đừng tiếc bã phù vân,
Chịu não nần,
Thân khổ cực,
Thảm bi than.

Bi than kêu thế kíp quày chân,
Trống giọng đờn,
Kêu rũ bạn,
Học kim đơn.

Kim đơn đắc ngộ khỏe muôn đời,
Đẹp lắm ơi,
Nhờ tu niệm,
Thoát luân hồi.

Luân hồi muôn kiếp đội sừng lông,
Lắm não nồng,
Đền nợ thế,
Phải tay không.

Tay không miễn đặng đạo mầu thôi,
Thỏa chí rồi,
Nhàn lạc thú,
Khỏi buông trôi.

Buông trôi khó gặp buổi Trời khai,
Khá trở quày,
Lo hưởng ứng,
Lạc thiên thai.

Thiên thai vui vẻ khóc trần duyên,
Lánh tục miền,
Thân cá chậu,
Chịu tiền khiên.

THI
ĐỘNG ĐÌNH HỒ
      Chịu tiền khiên ráng siêng tu tỉnh,
      Tỉnh giấc nồng lo tính tu thân,
            Chim lồng cá chậu não nồng,
Khám trần vay trả khó lòng thoát ra.
Lão kêu ca,
Ráng hiệp hòa,
Phải lo xa.
Lo xa tính trước kíp tu đi,
Đến hội thi,
Gần mở cửa,
Dụng huyền vi.
      Dụng huyền vi nam nhi độ thế,
      Độ thế rồi tiếng để muôn năm,
            Cần lo đạo đức sưu tầm,
Tầm nơi nguồn cội cao thâm bí truyền.
Ráng tham thiền,
Rõ cơ thiên,
Thọ mật truyền.
Mật truyền để dạy kẻ từ tâm,
Thoát bể trầm,
Nơi khổ hải,
Lánh xa xăm.
      Lánh xa xăm đặng tầm chánh pháp,
      Pháp huyền vi khí hạp tinh thần,
            Kêu đời khảy khúc tân dân,
Nghêu ngao bóng nguyệt nương thân cửa thiền.
Đến cảnh tiên,
Học thượng thiên,
Rõ thiêng liêng.
Thiêng liêng giáng điển dạy đời tu,
Vẹt ngút mù,
Thân trói buộc,
Vượt thanh u.
      Vượt thanh u cần tu hôm sớm,
      Sớm trưa chiều trí đởm an nhàn,
            Trau giồi bổn thể minh quang,
Vượt lên chín phẩm sen vàng khỏe thân.
Lánh tao tân,
Chớ lựa lần,
Phải hụt chân.
Hụt chân khó gặp chiếc đò đưa.
Mới kịp vừa,
Sau khỏi trễ,
Chiếc đò đưa.
      Chiếc đò đưa tam thừa cửu phẩm,
      Phẩm sen vàng quả đậm mới nên,
            Nên rồi thanh sử nêu tên,
Vượt lên thắng cảnh vững bền muôn thu.
Ráng lo tu,
Chớ cần cù,
Gặp mưa thu.
Mưa thu nếu gặp lạnh tê mình,
Mới hoảng kinh,
Cơn biến đổi,
Khắp tàn linh.

THI BÀI
        Quyển kinh ĐẠO PHÁP đã xong,
Giải bày tâm pháp, để lòng học theo.
        Hầu toan lánh kiếp hiểm nghèo,
Sanh ly tử biệt khỏi đeo theo mình.
        Hai mươi đàn đủ quyển kinh,
Dạy toàn thiên đạo thần linh cơ huyền.
        Dạy cho tỉnh giấc triền miên,
Tầm cơ siêu thoát Tây thiên hưởng nhàn.
        Ban ơn phận sự trung đàn,
Quyển kinh viên mãn bảo toàn huờn kinh.

ĐÀN KIỂM DUYỆT
MINH CHƠN ĐÀN 26-8-1945

THI
NGÔI vàng Thầy ngự lúc canh thâm,
HAI nẻo đọa siêu ráng kiếm tầm,
GIÁO hóa quần sanh gieo đạo pháp,
CHỦ quyền máy nhiệm để vào tâm.
      Thầy mừng các con nam nữ an tọa. Giờ này các con cầu nguyện Thầy lâm đàn kiểm duyệt quyển kinh ĐẠO PHÁP BÍ GIẢI đã hoàn thành viên mãn. Vậy các con đem để giữa Thiên bàn Thầy kiểm duyệt vô vi, rồi con điển ký chép lại cho rành nghe.
THI BÀI
      Quyển“ĐẠO PHÁP chơn kinh Thầy chấm,
      Để vớt con chìm đắm bể trần,
            Đưa về Cực Lạc khỏe thân,
Vui say thú vị muôn phần tiên cung.
      Cõi giả tạm lao lung thê thảm,
      Đừng ham chi bể cạm trần ai,
            Các con gắng chí miệt mài,
Ráng tu tịnh dưỡng chờ ngày phi thăng.
      Hía con ôi! Lòng hằng lo đạo,
      Thầy gia ơn phước báu con hiền,
            Ngày sau trở lại đào nguyên,
Tiêu diêu thắng cảnh khỏi phiền khổ thân.
      Thận, đạo báu con cần giồi luyện,
      Rồng giỡn mây hổ hiện triều nguơn,
            Minh châu xuất hiện Nê huờn,
Âm dương ký tế, huờn đơn kết thành.
      Sắt, học đạo năm canh giồi luyện,
      Khí hư vô vận chuyển châu thân,
            Thầy ban điển huệ sửa lần,
Cho con tịnh dưỡng vượt thần an nhiên.
      Chín, con lo đơn điền vận chuyển,
      Khí hiệp thần huờn biến linh căn,
            Đơn đài sen trổ ba vầng,
Tam hoa tụ đảnh vượt thần trường sanh.
      Tư, con luyện đơn hành quả hậu,
      Mới diễn đầu nung nấu nền cao,
            Con ôi! Tịnh dưỡng một màu,
Để Thầy sửa đổi giồi trau đơn điền.
      Các con ráng cần chuyên học đạo,
      Luyện Chơn thần huờn đáo cựu ngôi,
            Vượt qua biển khổ luân hồi,
Tiêu diêu thắng cảnh Thầy Trời dìu nương.
      Miễn các con theo đường chơn đạo,
      Việc cơ quan cải tạo do Thầy,
            Thầy ban bố phép Đông Tây,
Huyền linh cho trẻ hiệp vầy âm dương.
      Thầy ban ơn chung các con nam nữ được đạo đức miên trường thiên thu phước tải, đi đến hội Long hoa, hòa bình vạn vật.

SƠ LƯỢC TIỂU SỬ

      HUỆ MINH CHƠN TIÊN phàm danh là Trần Văn Lược, sanh năm 1890 tại Vàm Xáng Xà No, làng Nhơn Ái. Ông thân, bà thân của ông cũng người khá giả, sau dời gia đình về Bằng Tăng, hạt Long Xuyên.
      Khi ông trưởng thành thì song thân của ông mới định đôi bạn cho ông. Bên vợ ở tại làng Thường Phước, rạch Cái Muôn (Cần Thơ), cũng nhà khá giả, tánh tình thuần hậu, có một người con không ai hôm sớm nên gả con nuôi rể. Từ đó ông ở theo quê vợ, coi sóc ruộng vườn lo làm ăn gần xa đều thương mến. Cách ít năm, ông để dành được một số tiền mua đặng một số đất.
      Năm 1930, ông thọ giáo Cao Đài Chiếu Minh trường trai học đạo hôm sớm cần chuyên, ngày đêm khổ luyện một lòng tinh tấn với đạo, phế hết cuộc đời, trần duyên xóa bỏ, vui say mùi đạo để tâm phẳng lặng an nhiên.
      Chỗ ông ở hiện giờ ít người mộ đạo, chỉ lo giành giựt lợi quyền chen lấn trong vùng mộng ảo, mê man vật chất, đắm đuối bể tình, cho đạo đức là mê tín dị đoan để gạt người, tham vọng khinh khi, chê bai ngạo báng đạo đức, không còn nhân tâm thế đạo. Ông chán ngán nhân tình thế thái nên phế hết gia đình cho vợ con của ông lo. Ông mua một số đất riêng tại làng Long Thạnh, rạch Xẻo Môn cất một căn nhà sàn, một mình hôm sớm công phu, ngày đêm giồi luyện. Từ đó, ông đóng cửa tu trì, ít hay đi đâu và cũng không giao thiệp cùng ai. Khi đến ngày rằm, 30, ông có đi đàn tại Cần Thơ cách chỗ ông chừng 2km. Ông tu ít năm thì vợ và con gái út của ông cũng thọ chơn truyền, công phu luyện đạo.
      Ông tu trót 15 năm thì đắc thành tại thế. Có một lần ông xuất hồn về cơ tại Chiếu Minh đàn, chủ đàn là giáo sư Nguyễn Văn Chương ở tại Cái Tắc, ngày 20-2-1945 âm lịch giờ Ngọ. Sau khi ông liễu đạo về cơ Chiếu Minh, ông dạy lục đàn Thánh Giáo đó mới biết ông đã xuất chơn thần lúc còn tại thế về cơ dạy đạo.
      Tôi xin trích lục đàn đó để cho quý ngài tu đơn luyện đạo hoặc là chưa tu xem để làm triệu chứng.
      Tiếp đàn trích lục:
THI
Vân du vừa đến ghé đàn chơi,
Mừng hết chư nho đãi lệnh Trời,
Học đạo vô tâm vô ngũ uẩn,
Diệt trần thì khỏi chịu lưng vơi.
      Để lão chuyển một vị đủ đạo đức đến đây hiệp tác cùng chư hiền mà chung lo hành đạo. Giã từ chư vị Lão phi bồng.
THI
Bồng Lai thoát kiếp nợ trần duyên,
Một dạ cần tu giữ đạo huyền,
Thập ngũ linh cơ Chiếu Minh Tự,
Đãi thời ngọ mạng hưởng ân thiên.
      Không nên biết, xin kiếu.
      (Tiếp điển:)
THI
NGÔI xưa trở lại khỏe thân vàng,
HAI kiếp chưởng tu lại Niết Bàn,
GIÁO hóa huyền vi thâu Bắc khuyết,
CHỦ huyền cơ nhiệm tại Nam Bang.
      Thầy mừng các con nghe.
THI
Vui bấy Bồng Lai trở gót hài,
Dậu thời Thầy rước lại Thiên Thai,
Trần duyên đà mãn thân cơ cực,
Tiếp điển rồi đây sẽ giải bày.
Ngọ thời liệm xác phải y kỳ,
Cựu luật vi huyền phải chỉnh y,
Các trẻ hiểu thông Thầy miễn dạy,
Làm tròn như cũ ấy điều quy.
Chiếu Minh nghĩa địa gởi thi hài,
Linh tánh trở về cõi Thiên Thai,
Cho rõ đạo mầu là quí trọng,
Cơ huyền chuyển lại dựng ngày mai.

PHẦN PHỤ BẢN

HUỆ MINH CHƠN TIÊN
Thiên Lý Bửu Tòa, Đàn chấp bút lúc 10 giờ 50 phút
ngày 4 tháng Chạp năm Nhâm Tuất (17-1-1983)

THI
Du nhàn ngoại cảnh chí thong dong,
THIÊN LÝ hào quang chiếu chập chồng,
BỬU TÒA ghé lại đàn nương bút,
Chợt nhìn nơi cảnh ý đà thông.
THI
Đạo mầu HUỆ giác rõ cơ Thiên,
Luyện kỷ MINH tâm hiểu máy huyền,
Bảo mạng CHƠN nguơn thường lặng lẽ,
Phép mầu TIÊN Phật đáo về nguyên.
      Bần Đạo HUỆ MINH CHƠN TIÊN, tục danh TRẦN VĂN LƯỢC. Hôm nay nhằm giờ vân du ngoại cảnh, ngang qua đây nhìn cảnh Tòa vàng hào quang ngũ sắc rạng tỏ góc trời. Bần Đạo xin vào đàn bái yết Đức Phụ Hoàng, Đức Tây Vương và Tam Trấn, sau xin vài hàng cùng chư đạo tâm hãy lắng nghe.

THI BÀI
      Giờ ngoạn cảnh du nhàn tứ hải,
      Chợt nhìn qua nhơn loại buổi nay,
            Động lòng bác ái từ bi,
BỬU TÒA nương bút vài lời diệu ngôn.
      Nhìn Đạo báu trường tồn cuộc thế,
      Xét phận này không thể góp công,
            Xin trên Bệ Ngọc cửu trùng,
Đôi câu giảng luận với cùng đạo tâm.
      Chào chư vị sưu tầm Đạo pháp,
      Mở cửa huyền dung nạp chúng sanh,
            Trước tiên nhận thức nguồn lành,
Giảng thông chữ Đạo lập thành Càn Khôn.
      Chữ Đạo ấy trường tồn bất diệt,
      Đạo ấy là chủ thuyết khai sanh,
            Khai Thiên dựng Địa lập thành,
Càn Khôn vạn vật thấp sanh cũng đồng.
      Đạo pháp vốn trong vòng vận chuyển,
      Pháp luân xa chuyển biến ngàn trùng,
            Vận hành chuyển đạt lưu thông,
Âm dương thủy hỏa tựu trung đơn điền.
      Xá lợi tử là Diên Hống kết,
      Kết lại rồi diệt hết tử sanh,
            Cũng như nhơn đạo lập thành,
Dụng nam với nữ hóa sanh đời đời.
      Không biết đặt tên chi diễn tả,
      Mới gọi rằng“ĐẠO quả không sai,
            Lịnh THẦY Đạo hóa hoằng khai,
Luyện đơn hoán chuyển Thánh thai dựng đời.
      Kỳ mạt thế năm nơi khốn đốn,
      Phải lâm vòng hỗn độn vần xây,
            Pháp luân vận chuyển đêm ngày,
Thanh thanh tịnh tịnh chuyển xây cuộc trần.
      Khí hỗn độn dần dần ngưng kết,
      Thánh thai huờn diệt hết yêu tinh,
            Cõi đời lắng diệu an bình,
Cải tà quy chánh trở thành tân dân.
      Khi ấy mới cõi trần thong thả,
      Giảm bớt điều nhơn quả lầm than,
            Ráng lo cho đến hai ngàn,
Tu sao cứu khỏi thế gian họa sầu.
      Cuộc thế chiến năm châu chín đỏ,
      Họa diệt đời nào có muốn tha,
            Khuyên đời vưng lịnh TRỜI CHA,
Thực thi hòa hiệp Long Hoa hội này.
      Lành cho trọn điều may đưa tới,
      Hòa hiệp nhau dựng lại thái bình,
            Ghét nhau sấm dậy lôi đình,
Đưa cơ diệt thế thình lình không hay.
      Đời lẫn Đạo kỳ này chọn lọc,
      Trường thi công, thi đức, thi tài,
            Đạo Huỳnh đến buổi hoằng khai,
Đường tu áp dụng đức tài cứu nguy.
      Biết đường Đạo hãy đi cho đúng,
      Lúc lâm nguy vận dụng giải nàn,
            Tu đừng giả dối thế gian,
Phật ma âu cũng hai đàng tự tâm.
      Biết hai ngàn là năm tận thế,
      Chắc hay không mà để đánh liều?
            Hạ nguơn như cảnh trời chiều,
Gà con kiếm mẹ, chim chiều về cây.
      Cảnh mưa dậy gió mây thảm khốc,
      Đường tai bay họa gởi sớm trưa,
            Tu chơn đừng sợ đức thừa,
Cạnh tranh chửa nghiệp chưa vừa đã lâm.
      Lời thô thiển đạo tâm suy nghĩ,
      Bần lui chơn chư sĩ xét rành,
            Đạo đời cũng trược với thanh,
Trung dung phán đoán nguồn lành cội chơn.
      Thăng.


MƯỜI CÔNG ĐỨC ẤN TỐNG KINH
1) Một là những tội lỗi đã tạo từ trước, nhẹ thì được tiêu trừ, nặng thì chuyển thành nhẹ.
2) Hai là thường được các thiện thần ủng hộ, tránh được tất cả tai ương hoạn nạn, ôn dịch, nước lửa, trộm cướp, đao binh, ngục tù.
3) Ba là vĩnh viễn tránh khỏi những quả báo phiền khổ, oán cừu, oan trái của đời trước cũng như đời nầy.
4) Bốn là các vị hộ pháp thiện thần thường gia hộ nên những loài dạ xoa, ác quỷ, rắn độc, hùm beo tránh xa không dám hãm hại.
5) Năm là tâm được an vui, ngày không gặp việc nguy khốn, đêm ngủ không thấy ác mộng. Diện mạo hiền sáng, mạnh khỏe an lành, việc làm thuận lợi, được kết quả tốt.
6) Sáu là chí thành hộ pháp, tâm không cầu lợi, tự nhiên y thực đầy đủ, gia đình hòa thuận, phước lộc đời đời.
7) Bảy là lời nói việc làm trời, người hoan hỷ, đến đâu cũng được mọi người kính mến ngợi khen.
8) Tám là ngu chuyển thành trí, bệnh lành mạnh khỏe, khốn nghèo chuyển thành thịnh đạt. Nhàm chán nữ thân, mệnh chung liền được nam thân.
9) Chín là vĩnh viễn xa lìa đường ác, sanh vào cõi thiện, tướng mạo đoan nghiêm, tâm trí siêu việt, phước lộc tròn đầy.
10) Mười là hay vì tất cả chúng sanh trồng các căn lành, lấy tâm cầu của chúng sanh làm ruộng phước điền cho mình. Nhờ công đức ấy đạt được vô lượng phước quả thù thắng. Sanh ra nơi nào cũng thường được thấy Phật, nghe pháp, phước huệ rộng lớn, chứng đạt lục thông, sớm thành Phật quả.

No comments:

Post a Comment