20.-
KHUYẾN ĐẠO THI VĂN
THI
HUỆ chiếu điển
quang rọi ánh mầu,
MINH truyền giáo lý
khắp năm châu,
CHƠN như êm lặng đàn
thanh tịnh,
TIÊN xuất chân linh
khỏi họa sầu.
Bần Đạo chào chư phận sự tịnh tâm an tọa.
THI
Họa
sầu chìm đắm giữa sông mê,
Tỉnh
ngộ khuyên mau bước trở về,
Về
chốn cung tiên vui thắng cảnh,
Cảnh
trần ràng buộc chớ ham mê.
Ham
mê chi thế mảng tranh đua,
Bả
lợi mùi danh mãi chát chua,
Đạo
đức quên tầm về cựu vị,
Đời
là kiếp tạm chớ hơn thua.
Hơn
thua chi lắm kiếp phù sinh,
Đạo
đức chuyên lo gắng giữ gìn,
Hỏi
lại trăm năm ai hưởng trọn,
Cần
tu giải thoát lại Tây Kinh.
Tây
Kinh là chỗ rất thảnh thơi,
Mê
đắm làm chi cõi khổ đời,
Đời
tạm, thác về, nơi sống gởi,
Mê
trần phải chịu cảnh lưng vơi.
Lưng
vơi thế cuộc buổi tang điền,
Vay
trả trái oan lẽ tự nhiên,
Một
kiếp công phu xong kiếp nợ,
Đắc
thành Đạo vị thú trường miên.
THI BÀI
Đạo
vô thượng chơn không vi diệu,
Cần
để tâm kiếm hiểu thật hành,
Đời
cùng chuyển đạo Tam thanh,
Dạy dân thoát tục khỏi gành sông mê.
Mau
hồi tỉnh lo về tiên cảnh,
Cõi
trần ai ấm lạnh bất thường,
Riêng
than kìa cuộc tang thương,
Dân sanh thảm lệ đôi đường chia phôi.
Chốn
Bồng đảo say mùi thú vị,
Cõi
sơn hà bích thủy sơn xuyên,
Lo
tu trở lại đào nguyên,
Thoát vòng cương tỏa về miền Bồng Lai.
Cõi
giả tạm trần ai khổ não,
Mau
lánh tìm học đạo vô vi,
Học
cầu cách vật trí tri,
Hiểu tường mọi lẽ đường đi lánh trần.
Đạo
dạy đời tân dân minh đức,
Đạo
dạy người thoát vực ái hà,
Đường
đời thấm lệ đôi ba,
Càng mê đắm lắm càng sa khổ hình.
Lò
tạo hóa thinh thinh vô thượng,
Đạo
không hình mường tượng vô vi,
Kêu
ca quần chúng mau đi,
Đi về học đạo huyền vi siêu hình.
Cuộc
biến thiên thình lình khó hiểu,
Ráng
cần lo nương níu đạo mầu,
Làm
sao tránh họa đáo đầu,
Tang thương thời cuộc bể dâu không
chừng.
Kêu
hòa hiệp Bắc, Nam, Trung lại,
Học
đạo mầu hoán cải đời suy,
Cho
người rõ biết đường đi,
Đi cho đến chốn trường thi đại đồng.
Ngày
đại hội Hoa Long khai diễn,
Khắp
càn khôn chuyển biến họa đồ,
Ai
còn gìn đạo hư vô,
Dương sanh âm tận cam lồ cứu nguy.
Hiệp
tam bửu ngũ quy vận chuyển,
Chuyển
long kỳ tân tiến minh châu,
Kim
quang chiếu diệu hoàn cầu,
Lập nên quốc đạo ngũ châu tương đồng.
Nhìn
hoàn cảnh trời Đông ủ dột,
Kiếp
đời còn tan hợp bi quan,
Lai
rai tuyết bủa khắp ngàn,
Sơ rơ vạn vật đời tàn quạnh hiu.
Cảnh
hoàng hôn mây chiều bao phủ,
Vọng
thu không nhịp đủ ba hồi,
Bên
thềm dế khóc than ôi!
Đổ quyên trỗi nhịp, nhịp rồi tàn canh.
Trống
lầu giục Nam thanh tỉnh mộng,
Tỉnh
mà coi khổ thống vì đâu,
Biết
rồi thức tỉnh quày đầu,
Quày đầu tự tỉnh ngỏ hầu tu chơn.
THI VÔ VI
(Thập thủ liên hoàn)
Lo
tu đặng thấu máy huyền vi,
Đắc
đạo thì,
Lên
chín bậc,
Vượt
bôn phi.
(Đọc
thành bài thi tứ tuyệt:)
Lo
tu đặng thấu máy huyền vi,
Thấu
máy huyền vi đắc đạo thì,
Vi
đắc đạo thì lên chín bậc,
Thì
lên chín bậc vượt bôn phi.
Bôn
phi đắc ngộ đến cung tiên,
Chứng
thượng thiên,
Thân
bất toại,
Hưởng
trường miên.
Trường
miên vĩnh viễn chẳng luân hồi,
Thảm
lắm ôi,
Đày
đọa mãi,
Kiếp
luân hồi.
Buông
trôi đừng tiếc bã phù vân,
Chịu
não nần,
Thân
khổ cực,
Thảm
bi than.
Bi
than kêu thế kíp quày chân,
Trống
giọng đờn,
Kêu
rũ bạn,
Học
kim đơn.
Kim
đơn đắc ngộ khỏe muôn đời,
Đẹp
lắm ơi,
Nhờ
tu niệm,
Thoát
luân hồi.
Luân
hồi muôn kiếp đội sừng lông,
Lắm
não nồng,
Đền
nợ thế,
Phải
tay không.
Tay
không miễn đặng đạo mầu thôi,
Thỏa
chí rồi,
Nhàn
lạc thú,
Khỏi
buông trôi.
Buông
trôi khó gặp buổi Trời khai,
Khá
trở quày,
Lo
hưởng ứng,
Lạc
thiên thai.
Thiên
thai vui vẻ khóc trần duyên,
Lánh
tục miền,
Thân
cá chậu,
Chịu
tiền khiên.
THI
ĐỘNG ĐÌNH HỒ
Chịu
tiền khiên ráng siêng tu tỉnh,
Tỉnh
giấc nồng lo tính tu thân,
Chim
lồng cá chậu não nồng,
Khám trần vay trả khó lòng thoát ra.
Lão
kêu ca,
Ráng
hiệp hòa,
Phải
lo xa.
Lo
xa tính trước kíp tu đi,
Đến
hội thi,
Gần
mở cửa,
Dụng
huyền vi.
Dụng
huyền vi nam nhi độ thế,
Độ
thế rồi tiếng để muôn năm,
Cần
lo đạo đức sưu tầm,
Tầm nơi nguồn cội cao thâm bí truyền.
Ráng
tham thiền,
Rõ
cơ thiên,
Thọ
mật truyền.
Mật
truyền để dạy kẻ từ tâm,
Thoát
bể trầm,
Nơi
khổ hải,
Lánh
xa xăm.
Lánh
xa xăm đặng tầm chánh pháp,
Pháp
huyền vi khí hạp tinh thần,
Kêu
đời khảy khúc tân dân,
Nghêu ngao bóng nguyệt nương thân cửa
thiền.
Đến
cảnh tiên,
Học
thượng thiên,
Rõ
thiêng liêng.
Thiêng
liêng giáng điển dạy đời tu,
Vẹt
ngút mù,
Thân
trói buộc,
Vượt
thanh u.
Vượt
thanh u cần tu hôm sớm,
Sớm
trưa chiều trí đởm an nhàn,
Trau
giồi bổn thể minh quang,
Vượt lên chín phẩm sen vàng khỏe thân.
Lánh
tao tân,
Chớ
lựa lần,
Phải
hụt chân.
Hụt
chân khó gặp chiếc đò đưa.
Mới
kịp vừa,
Sau
khỏi trễ,
Chiếc
đò đưa.
Chiếc
đò đưa tam thừa cửu phẩm,
Phẩm
sen vàng quả đậm mới nên,
Nên
rồi thanh sử nêu tên,
Vượt lên thắng cảnh vững bền muôn thu.
Ráng
lo tu,
Chớ
cần cù,
Gặp
mưa thu.
Mưa
thu nếu gặp lạnh tê mình,
Mới
hoảng kinh,
Cơn
biến đổi,
Khắp
tàn linh.
THI BÀI
Quyển
kinh ĐẠO PHÁP đã xong,
Giải bày tâm pháp, để lòng học theo.
Hầu
toan lánh kiếp hiểm nghèo,
Sanh ly tử biệt khỏi đeo theo mình.
Hai
mươi đàn đủ quyển kinh,
Dạy toàn thiên đạo thần linh cơ huyền.
Dạy cho
tỉnh giấc triền miên,
Tầm cơ siêu thoát Tây thiên hưởng nhàn.
Ban ơn
phận sự trung đàn,
Quyển kinh viên mãn bảo toàn huờn kinh.
ĐÀN KIỂM
DUYỆT
MINH CHƠN ĐÀN 26-8-1945
THI
NGÔI vàng Thầy ngự
lúc canh thâm,
HAI nẻo đọa siêu
ráng kiếm tầm,
GIÁO hóa quần sanh
gieo đạo pháp,
CHỦ quyền máy nhiệm
để vào tâm.
Thầy mừng các con nam nữ an tọa. Giờ này
các con cầu nguyện Thầy lâm đàn kiểm duyệt quyển kinh ĐẠO PHÁP BÍ GIẢI đã hoàn thành viên mãn. Vậy các con đem để giữa
Thiên bàn Thầy kiểm duyệt vô vi, rồi con điển ký chép lại cho rành nghe.
THI BÀI
QuyểnĐẠO
PHÁP chơn kinh Thầy chấm,
Để
vớt con chìm đắm bể trần,
Đưa
về Cực Lạc khỏe thân,
Vui say thú vị muôn phần tiên cung.
Cõi
giả tạm lao lung thê thảm,
Đừng
ham chi bể cạm trần ai,
Các
con gắng chí miệt mài,
Ráng tu tịnh dưỡng chờ ngày phi thăng.
Hía
con ôi! Lòng hằng lo đạo,
Thầy
gia ơn phước báu con hiền,
Ngày
sau trở lại đào nguyên,
Tiêu diêu thắng cảnh khỏi phiền khổ
thân.
Thận,
đạo báu con cần giồi luyện,
Rồng
giỡn mây hổ hiện triều nguơn,
Minh
châu xuất hiện Nê huờn,
Âm dương ký tế, huờn đơn kết thành.
Sắt,
học đạo năm canh giồi luyện,
Khí
hư vô vận chuyển châu thân,
Thầy
ban điển huệ sửa lần,
Cho con tịnh dưỡng vượt thần an nhiên.
Chín,
con lo đơn điền vận chuyển,
Khí
hiệp thần huờn biến linh căn,
Đơn
đài sen trổ ba vầng,
Tam hoa tụ đảnh vượt thần trường sanh.
Tư,
con luyện đơn hành quả hậu,
Mới
diễn đầu nung nấu nền cao,
Con
ôi! Tịnh dưỡng một màu,
Để Thầy sửa đổi giồi trau đơn điền.
Các
con ráng cần chuyên học đạo,
Luyện
Chơn thần huờn đáo cựu ngôi,
Vượt
qua biển khổ luân hồi,
Tiêu diêu thắng cảnh Thầy Trời dìu
nương.
Miễn
các con theo đường chơn đạo,
Việc
cơ quan cải tạo do Thầy,
Thầy
ban bố phép Đông Tây,
Huyền linh cho trẻ hiệp vầy âm dương.
Thầy ban ơn chung các con nam nữ được đạo
đức miên trường thiên thu phước tải, đi đến hội Long hoa, hòa bình vạn vật.
SƠ LƯỢC
TIỂU SỬ
HUỆ
MINH CHƠN TIÊN phàm danh là Trần Văn
Lược, sanh năm 1890 tại Vàm Xáng Xà No, làng Nhơn Ái. Ông thân, bà thân của
ông cũng người khá giả, sau dời gia đình về Bằng Tăng, hạt Long Xuyên.
Khi ông trưởng thành thì song thân của ông
mới định đôi bạn cho ông. Bên vợ ở tại làng Thường Phước, rạch Cái Muôn (Cần
Thơ), cũng nhà khá giả, tánh tình thuần hậu, có một người con không ai hôm sớm
nên gả con nuôi rể. Từ đó ông ở theo quê vợ, coi sóc ruộng vườn lo làm ăn gần
xa đều thương mến. Cách ít năm, ông để dành được một số tiền mua đặng một số
đất.
Năm 1930, ông thọ giáo Cao Đài Chiếu Minh
trường trai học đạo hôm sớm cần chuyên, ngày đêm khổ luyện một lòng tinh tấn
với đạo, phế hết cuộc đời, trần duyên xóa bỏ, vui say mùi đạo để tâm phẳng lặng
an nhiên.
Chỗ ông ở hiện giờ ít người mộ đạo, chỉ lo
giành giựt lợi quyền chen lấn trong vùng mộng ảo, mê man vật chất, đắm đuối bể
tình, cho đạo đức là mê tín dị đoan để gạt người, tham vọng khinh khi, chê bai
ngạo báng đạo đức, không còn nhân tâm thế đạo. Ông chán ngán nhân tình thế thái
nên phế hết gia đình cho vợ con của ông lo. Ông mua một số đất riêng tại làng
Long Thạnh, rạch Xẻo Môn cất một căn nhà sàn, một mình hôm sớm công phu, ngày
đêm giồi luyện. Từ đó, ông đóng cửa tu trì, ít hay đi đâu và cũng không giao
thiệp cùng ai. Khi đến ngày rằm, 30, ông có đi đàn tại Cần Thơ cách chỗ ông
chừng 2km. Ông tu ít năm thì vợ và con gái út của ông cũng thọ chơn truyền,
công phu luyện đạo.
Ông tu trót 15 năm thì đắc thành tại thế.
Có một lần ông xuất hồn về cơ tại Chiếu Minh đàn, chủ đàn là giáo sư Nguyễn Văn
Chương ở tại Cái Tắc, ngày 20-2-1945 âm lịch giờ Ngọ. Sau khi ông liễu đạo về
cơ Chiếu Minh, ông dạy lục đàn Thánh Giáo đó mới biết ông đã xuất chơn thần lúc
còn tại thế về cơ dạy đạo.
Tôi xin trích lục đàn đó để cho quý ngài
tu đơn luyện đạo hoặc là chưa tu xem để làm triệu chứng.
Tiếp đàn trích lục:
THI
Vân
du vừa đến ghé đàn chơi,
Mừng
hết chư nho đãi lệnh Trời,
Học
đạo vô tâm vô ngũ uẩn,
Diệt
trần thì khỏi chịu lưng vơi.
Để lão chuyển một vị đủ đạo đức đến đây
hiệp tác cùng chư hiền mà chung lo hành đạo. Giã từ chư vị Lão phi bồng.
THI
Bồng
Lai thoát kiếp nợ trần duyên,
Một
dạ cần tu giữ đạo huyền,
Thập
ngũ linh cơ Chiếu Minh Tự,
Đãi
thời ngọ mạng hưởng ân thiên.
Không nên biết, xin kiếu.
(Tiếp điển:)
THI
NGÔI xưa trở lại
khỏe thân vàng,
HAI kiếp chưởng tu
lại Niết Bàn,
GIÁO hóa huyền vi
thâu Bắc khuyết,
CHỦ huyền cơ nhiệm
tại Nam Bang.
Thầy mừng các con nghe.
THI
Vui
bấy Bồng Lai trở gót hài,
Dậu
thời Thầy rước lại Thiên Thai,
Trần
duyên đà mãn thân cơ cực,
Tiếp
điển rồi đây sẽ giải bày.
Ngọ
thời liệm xác phải y kỳ,
Cựu
luật vi huyền phải chỉnh y,
Các
trẻ hiểu thông Thầy miễn dạy,
Làm
tròn như cũ ấy điều quy.
Chiếu
Minh nghĩa địa gởi thi hài,
Linh
tánh trở về cõi Thiên Thai,
Cho
rõ đạo mầu là quí trọng,
Cơ
huyền chuyển lại dựng ngày mai.
PHẦN PHỤ
BẢN
HUỆ MINH
CHƠN TIÊN
Thiên Lý Bửu Tòa, Đàn chấp bút lúc 10 giờ 50 phút
ngày 4 tháng Chạp năm Nhâm Tuất (17-1-1983)
THI
Du
nhàn ngoại cảnh chí thong dong,
THIÊN
LÝ hào quang chiếu chập chồng,
BỬU
TÒA ghé lại đàn nương bút,
Chợt
nhìn nơi cảnh ý đà thông.
THI
Đạo
mầu HUỆ giác rõ cơ Thiên,
Luyện
kỷ MINH tâm hiểu máy huyền,
Bảo
mạng CHƠN nguơn thường lặng lẽ,
Phép
mầu TIÊN Phật đáo về nguyên.
Bần Đạo HUỆ MINH CHƠN TIÊN, tục danh TRẦN VĂN LƯỢC. Hôm nay nhằm giờ vân du
ngoại cảnh, ngang qua đây nhìn cảnh Tòa vàng hào quang ngũ sắc rạng tỏ góc
trời. Bần Đạo xin vào đàn bái yết Đức Phụ Hoàng, Đức Tây Vương và Tam Trấn, sau
xin vài hàng cùng chư đạo tâm hãy lắng nghe.
THI BÀI
Giờ
ngoạn cảnh du nhàn tứ hải,
Chợt
nhìn qua nhơn loại buổi nay,
Động
lòng bác ái từ bi,
BỬU TÒA nương bút vài lời diệu ngôn.
Nhìn
Đạo báu trường tồn cuộc thế,
Xét
phận này không thể góp công,
Xin
trên Bệ Ngọc cửu trùng,
Đôi câu giảng luận với cùng đạo tâm.
Chào
chư vị sưu tầm Đạo pháp,
Mở
cửa huyền dung nạp chúng sanh,
Trước
tiên nhận thức nguồn lành,
Giảng thông chữ Đạo lập thành Càn Khôn.
Chữ
Đạo ấy trường tồn bất diệt,
Đạo
ấy là chủ thuyết khai sanh,
Khai
Thiên dựng Địa lập thành,
Càn Khôn vạn vật thấp sanh cũng đồng.
Đạo
pháp vốn trong vòng vận chuyển,
Pháp
luân xa chuyển biến ngàn trùng,
Vận
hành chuyển đạt lưu thông,
Âm dương thủy hỏa tựu trung đơn điền.
Xá
lợi tử là Diên Hống kết,
Kết
lại rồi diệt hết tử sanh,
Cũng
như nhơn đạo lập thành,
Dụng nam với nữ hóa sanh đời đời.
Không
biết đặt tên chi diễn tả,
Mới
gọi rằngĐẠO quả không sai,
Lịnh
THẦY Đạo hóa hoằng khai,
Luyện đơn hoán chuyển Thánh thai dựng
đời.
Kỳ
mạt thế năm nơi khốn đốn,
Phải
lâm vòng hỗn độn vần xây,
Pháp
luân vận chuyển đêm ngày,
Thanh thanh tịnh tịnh chuyển xây cuộc
trần.
Khí
hỗn độn dần dần ngưng kết,
Thánh
thai huờn diệt hết yêu tinh,
Cõi
đời lắng diệu an bình,
Cải tà quy chánh trở thành tân dân.
Khi
ấy mới cõi trần thong thả,
Giảm
bớt điều nhơn quả lầm than,
Ráng
lo cho đến hai ngàn,
Tu sao cứu khỏi thế gian họa sầu.
Cuộc
thế chiến năm châu chín đỏ,
Họa
diệt đời nào có muốn tha,
Khuyên đời vưng lịnh TRỜI CHA,
Thực thi hòa hiệp Long Hoa hội này.
Lành
cho trọn điều may đưa tới,
Hòa
hiệp nhau dựng lại thái bình,
Ghét
nhau sấm dậy lôi đình,
Đưa cơ diệt thế thình lình không hay.
Đời
lẫn Đạo kỳ này chọn lọc,
Trường
thi công, thi đức, thi tài,
Đạo
Huỳnh đến buổi hoằng khai,
Đường tu áp dụng đức tài cứu nguy.
Biết
đường Đạo hãy đi cho đúng,
Lúc
lâm nguy vận dụng giải nàn,
Tu
đừng giả dối thế gian,
Phật ma âu cũng hai đàng tự tâm.
Biết
hai ngàn là năm tận thế,
Chắc
hay không mà để đánh liều?
Hạ
nguơn như cảnh trời chiều,
Gà con kiếm mẹ, chim chiều về cây.
Cảnh
mưa dậy gió mây thảm khốc,
Đường
tai bay họa gởi sớm trưa,
Tu
chơn đừng sợ đức thừa,
Cạnh tranh chửa nghiệp chưa vừa đã lâm.
Lời
thô thiển đạo tâm suy nghĩ,
Bần
lui chơn chư sĩ xét rành,
Đạo
đời cũng trược với thanh,
Trung dung phán đoán nguồn lành cội
chơn.
Thăng.
MƯỜI CÔNG
ĐỨC ẤN TỐNG KINH
1) Một là
những tội lỗi đã tạo từ trước, nhẹ thì được tiêu trừ, nặng thì chuyển thành
nhẹ.
2) Hai là
thường được các thiện thần ủng hộ, tránh được tất cả tai ương hoạn nạn, ôn
dịch, nước lửa, trộm cướp, đao binh, ngục tù.
3) Ba là
vĩnh viễn tránh khỏi những quả báo phiền khổ, oán cừu, oan trái của đời trước
cũng như đời nầy.
4) Bốn là
các vị hộ pháp thiện thần thường gia hộ nên những loài dạ xoa, ác quỷ, rắn độc,
hùm beo tránh xa không dám hãm hại.
5) Năm là
tâm được an vui, ngày không gặp việc nguy khốn, đêm ngủ không thấy ác mộng.
Diện mạo hiền sáng, mạnh khỏe an lành, việc làm thuận lợi, được kết quả tốt.
6) Sáu là
chí thành hộ pháp, tâm không cầu lợi, tự nhiên y thực đầy đủ, gia đình hòa
thuận, phước lộc đời đời.
7) Bảy là
lời nói việc làm trời, người hoan hỷ, đến đâu cũng được mọi người kính mến ngợi
khen.
8) Tám là
ngu chuyển thành trí, bệnh lành mạnh khỏe, khốn nghèo chuyển thành thịnh đạt.
Nhàm chán nữ thân, mệnh chung liền được nam thân.
9) Chín là
vĩnh viễn xa lìa đường ác, sanh vào cõi thiện, tướng mạo đoan nghiêm, tâm trí
siêu việt, phước lộc tròn đầy.
10) Mười
là hay vì tất cả chúng sanh trồng các căn lành, lấy tâm cầu của chúng sanh làm
ruộng phước điền cho mình. Nhờ công đức ấy đạt được vô lượng phước quả thù
thắng. Sanh ra nơi nào cũng thường được thấy Phật, nghe pháp, phước huệ rộng
lớn, chứng đạt lục thông, sớm thành Phật quả.
No comments:
Post a Comment