13.-
KHUYẾN ĐẠO THI VĂN
THI
Kỳ
sơn HUỆ xuất cõi Nam thiên,
Sơn
thượng MINH khai chứng thượng điền,
Đàn
nội CHƠN như thông bổn giác,
Giáng
trần TIÊN Phật bố thiêng liêng.
Thiêng
liêng diệu pháp độ nhân gian,
Chỉ
lẽ mầu vi mở khiếu quang,
Tứ
thể trau giồi thông cửu khiếu,
Khảm
Ly tương ứng đắc sanh Càn.
Càn
Thiên vi thượng đạo trung dung,
Ly
Khảm trung hư Bắc đẩu cung,
Luyện
khí hóa thần quy đắc đạo,
Đài
Tiên xuất nhập thoát không trung.
Nay nhằm buổi Hạ nguơn, cơ Đạo chuyển xây
phục hồi Thượng Cổ, để đưa dân sanh qua bờ bỉ ngạn, thoát ra khỏi cảnh phù đồ,
để chứng vị Thần, Tiên, Thánh, Phật. Vậy ai là người hiểu thông máy nhiệm, trong
cuộc dinh, hư, tiêu, trưởng, lo hồi tâm hướng thiện, dẫn dắt quần sanh, thoát
ra khỏi chỗ chông gai, để hưởng lấy buổi trời Nghiêu đất Thuấn. Đời thái bình
rồi thì vạn vật thanh sanh, để người hiền an hưởng, khỏi giựt giành tàn sát lẫn
nhau, như buổi Hạ nguơn hỗn loạn.
THI BÀI
Lời
kêu gọi triết nhân tỉnh mộng,
Kíp
quày chơn nghe trống đổ vang,
Mau
lo bước lẹ xuống thoàn,
Trường thi mở cửa, Nhơn hoàng dựng ra.
Kêu
tỉnh giấc Nam Kha mau lẹ,
Hiệp
chung đàng chớ tẻ, chớ chia,
Chung
nhau như khóa với chìa,
Hiệp cùng lại một đừng chia giống nòi.
Cả
năm châu đồng noi đạo chánh,
Biết
đạo rồi tác Thánh nên Tiên,
Thoát
ra khỏi cảnh não phiền,
Sanh ly tử biệt, đảo điên kiếp trần.
Trần
là khổ, muôn phần cay nghiệt,
Đừng
mến ham, chớ tiếc chớ tham,
Đồng
chung hiệp một con đàng,
Đưa qua bỉ ngạn vượt đàng về Tây.
Ráng
bền chí theo Thầy học đạo,
Đạo
vô vi quí báu vô vàn,
Nhìn
xem hoàn cảnh đa mang,
Vì mê danh lợi ngổn ngang bụi trần.
Mau
hồi tỉnh, mau lần chân bước,
Nếu
chậm chân khó được an thân,
Trời
hôm vần vũ mây vần,
Lai rai gió tạt muôn phần thê lương.
Ngày
tháng qua mau dường tên bắn,
Một
kiếp người hỏi đặng bao lâu?
Không
tu thì chịu đáo đầu,
Bể dâu thế cuộc biết đâu mà tìm.
Cuộc
thế sự im lìm sẽ tới,
Cảnh
tiêu ma khêu gợi sầu than,
Nhìn
xem vạn vật khắp ngàn,
Tiêu sơ hoàn cảnh là đàng diệt vong.
Làm
sao đặng đại đồng quy hiệp,
Thuyết
trung hòa dạy tiếp quần sanh,
Cùng
nhau hưởng ứng nhiệt thành,
Trời Nghiêu đất Thuấn để dành bên chơn.
Dặm
quan hà mau chân trở bước,
Thì
mới mong kịp bước kỳ thi,
Cùng
nhau học đạo vô vi,
Là đường cứu thế tầm đi bớ trần.
Sửa
sao đặng tân dân minh đức,
Bước
lần lên đến bực triết nhân,
Thông
thường cơ thể châu thân,
Điểm khai linh tánh, hoát khai đạo mầu.
Đời
thái bình năm châu hưởng ứng,
Người
người đều triệu chứng đạo Cao,
Nhìn
xem như một đồng bào,
Không còn chia rẽ sắc màu Bắc Nam.
Hiện
nay còn phân tam, tách ngũ,
Buối
cuối cùng hội đủ vạn linh,
Lưu
thông chân pháp đạo huỳnh,
Tử vi trổ mặt, cứu tinh ra đời.
Thảm
thiết thương cơ trời biến động,
Máy
tuần hoàn lồng lộng bủa giăng,
Dân
sanh thảm đạm vô ngần,
Ngửa nghiêng chiếc bóng, rộn ràng Bắc
Nam.
Rồi
đây sẽ hãn tàng cơ cuộc,
Buổi
mạt thời bước kịp Long Hoa,
Cùng
nhau nâng đỡ đạo nhà,
Cao Đài thống nhất khải ca diệu huyền.
Nam,
Trung, Bắc, hậu, tiền gom một,
Hiệp
nhất làm trụ cốt vững bền,
Ngày
thành đạo đức kề bên,
Kêu ca sanh chúng đắp nền vô vi.
Buổi
ân xá trường thi mở cửa,
Đừng
trễ chơn lần lựa khó thành,
Nhìn
xem vạn vật quần sanh,
Bơ vơ chiếc bóng không đành ngồi xem.
Nên
giáng đàn dạy đem quy luật,
Để
tỉnh hồn đánh thức kẻ mê,
Mau
lo trở bước quay về,
Về nơi Tiên cảnh dựa kề Ngọc Kinh.
Vui bấy trời Nam mở đạo Huỳnh,
Phục hồi thượng cổ cứu quần sinh,
Âu ca lạc nghiệp đời hạnh hưởng,
Vạn vật mừng vui rất thỏa tình.
Thỏa tình thay bấy Đạo hoằng khai,
Dìu dẫn nhân sanh thoát nạn tai,
Đạo pháp quy nguyên gồm hiệp nhất,
Giã từ phận sự lại Thiên Thai.
14.- BÁT
QUÁI KHUYẾN ĐẠO
THI
HUỆ pháp chân linh
giáng điển hồng,
MINH phong nhật
nguyệt hội Hoa Long,
CHƠN truyền thủy hỏa
đồng ký tế,
TIÊN Phật đắc thành
chức thọ phong.
Bần Đạo chào chư phận sự tịnh đàn tiếp cho
trọn điển.
THI
Giáo
truyền cơ nhiệm lý hư vô,
Chân
đạo hoằng khai Thái cực đồ,
Mạt
hậu kỳ cùng ban diệu pháp,
Chân
truyền thọ ký bế Phong đô.
THI BÀI
CÀN là vốn Tiên Thiên vô cực,
Xuất
chơn thần tỉnh thức trần ai,
Chiếu
linh cảnh giác đợi ngày,
Minh tường cơ đạo trở quày đàng tiên.
Buổi
Tam kỳ quy nguyên nhất thống,
Xế
đời lo ứng vận đạo mầu,
Tà
bóng ác cả nhành dâu,
KHẢM ly tương hội
đáo đầu Thiên Cung.
Truyền
lý thuyết Huyền khung đã dạy,
Chơn
như bày lịnh dạy nhân sanh,
Lý
gieo đạo pháp dạy rành,
Hiệp chung năm mối lo hành cơ quan.
Tam
ngũ là con đường đắc đạo,
Gia
công lo đào tạo lý sâu,
CẤN minh tỏ rạng hoàn cầu,
Ban truyền đạo pháp sông mâu khỏi nàn.
Chỉnh
lý thuyết bảo toàn quần chúng,
Đạo
là cơ ứng dụng tinh thần,
Dìu
đường sanh chúng bước chân,
Nam bang trổ mặt hiền nhân giúp đời.
Bắc
nhịp cầu tới nơi Bạch Ngọc,
CHẤN bảo tồn lừa lọc linh căn,
Lập
nên giáo lý trang bằng,
Tiên phàm nhờ đạo mới hằng thoát tai.
Thiên
cơ định đến ngày lập hội,
Vạn
nhất đồng quy cội tiên thiên,
Chúng
sanh nhờ bởi bổn nguyên,
Hòa chung hiệp nhất mối giềng sẽ trao.
TỐN trỗ mặt anh hào giúp đạo,
Xuất
Nhân hoàng cải tạo đời an,
Cao
Đài giáo đạo Nam bang,
Nhân sanh hưởng ứng xuống tràng thi
khoa.
Truyền
chân đạo gần xa hưởng ứng,
Minh
cơ mầu chỉ dụng đức tin,
Thiện
tâm hôm sớm giữ gìn,
LY gian đắc đạo
Huỳnh đình tu thân.
Tường
máy nhiệm ân cần lo học,
Chân
truyền ban lừa lọc nhân sanh,
Đạo
cao khuyên khá thật hành,
Buổi đầu khổ nạn giật giành sá chi!
Kỳ
Ngươn hạ lần đi cho kịp,
Ba
ngươn này trực tiếp chân truyền,
KHÔN thì học đạo thân yên,
Kêu ca quần chúng xuống thuyền từ bi.
Minh
bốn thể tường tri vạn vật,
Lý
diệu mầu dạy tất nhân sanh,
Gom
nhau quy hiệp một nhành,
Về nơi tiên cảnh Trời dành phước dư.
Một
kiếp lo rèn tu học đạo,
ĐOÀI cao thâm chuyển giáo ban truyền,
Hiệp
vầy cơ đạo tiên thiên,
Minh khai đại đạo lãnh thuyền tế nhân.
Tân
dân chịu nhiều cơn lao lý,
Dựng
đạo trời lập Tý Nghiêu phong,
Đạo
khai cứu độ giống dòng,
Nhà nhà vui vẻ thuần phong buổi này.
(Khoán
thủ chiết ra thành bài thi bát cú đủ 8 cửa trong Bát quái.)
THI
Long
Hoa hội đủ Thánh, Thần, Tiên,
Cứu
vớt người tu xuống bách thuyền,
Huyền
diệu ban cho kỳ mạt kiếp,
Ba
nền chơn giáo tại Nam thiên.
Nam
thiên sửa dựng cuộc đời xiêu,
Học
đạo thì tua giữ luật điều,
Tịnh
dưỡng tinh thần thông trí tuệ,
Đơn
điền hỏa hậu lửa riu riu.
BÀI
Nguồn
chân đạo cao siêu lý nhiệm,
Lẽ
huyền vi chuyển biến tinh thần,
Vô
vi hạo khí xây vần,
Đơn điền quy tụ tinh thần phát minh.
Đạo
là gốc hư linh bất muội,
Vận
triều ngươn lui tới đơn điền,
Xây
tròn bánh phép tự nhiên,
Xuất vi huyền tẩn an nhiên đạo tràng.
Buổi
kỳ chót nên toan học đạo,
Mười
ngàn năm chơn giáo phục hưng,
Rải
gieo đạo đức phong thuần,
Năm châu hưởng ứng gội nhuần Trời Cha.
Đời
Thượng cổ, mưa hòa gió thuận,
Nhơn
vật đồng hưởng ứng trời Nghiêu,
Thảnh
thơi vui vẻ mai chiều,
Tiên thiên Đại đạo dắt dìu quần linh.
Buổi
Long Hoa, Thiên Đình chiếu mạng,
Học
đạo Trời lãnh bảng huyền vi,
Độ
an quần chúng kịp kỳ,
Thoát vòng sanh tử đến thì cung Tiên.
Bần Đạo ban ơn chư hiền phận sự lóng nghe
bần đạo giải về bốn kiếp thành, trụ, hoại, không.
15.- SANH
LÃO BỆNH TỬ
THI
HUỆ rồi toan dắt
lại người mê,
MINH giác chơn linh
đặng dựa kề,
CHƠN pháp bí truyền
thông hiểu đặng,
TIÊN phàm thoát hóa
lại nhàn quê.
Bần Đạo chào chư phận sự tịnh tâm nghe Bần
Đạo giải về bốn đề sanh, lão, bệnh, tử khổ. Đó là kiếp thành, trụ, hoại, không
của con người sanh trên cõi tạm, xác thân là mộng huyển, sớm sanh chiều diệt,
vô thường trong ba vạn sáu ngàn ngày mà có ai hưởng trọn. Tuy luật định trăm
năm, nhưng ít có người chín chục, dưới mồ hoang biết bao nhiêu là kẻ đầu xanh
tuổi trẻ, dầu cho giàu sang, nghèo khó cũng không tránh khỏi đường sanh tử của
kiếp luân hồi, vần xây mãi mãi, sanh rồi già, rồi bệnh hoạn triền miên đến
chết. Hết sanh rồi tử, hết tử rồi sanh, xây tròn như bánh xe lục đạo. Bởi vậy
người sanh ra cõi trần thì phải chịu cực bốn đại khổ kêu là: thành, trụ, hoại,
không. Một kiếp thành là khi ở trong bào thai, đến khi sanh ra rồi khôn lớn,
xác thịt nở nang, chừng ba chục tuổi là kiếp trụ, hết lớn. Từ ba chục sắp lên
là kiếp hoại bắt đầu, xác thịt tiêu mòn nay đau mai ốm, tóc bạc răng lay, mắt
mờ tai điếc, gân mỏi gối dùn, cuộc lạc thú cõi trần đều bỏ hết, đó là kiếp
hoại. Đến khi hồn ra khỏi xác, muôn việc đều không, vợ con sự nghiệp bao nhiêu
đều bỏ hết, đó là kiếp không. Kiếp thành bắt đầu khởi tạo xác thịt, kiếp trụ
lại khởi tạo hoàn toàn, kiếp hoại là bắt đầu tiêu diệt, kiếp không là chết rồi
muôn việc chi đều không, chỉ có tội tình hay là phước đức đem theo đến đài
Nghiệt cảnh một mình dun rủi, trên lộ thượng Huỳnh tuyền, dầu cho cha con,
chồng vợ hay là bạn bè anh em, có thương tiếc bao nhiêu cũng không thể nào chia
sớt cái sự tử sanh cho đặng.
Than ôi! Cuộc đời giả tạm, mơ mộng làm
chi, dầu cho vinh hoa phú quí, tột bực giàu sanh, kiều thê mỹ thiếp, vật lạ
miếng ngon, lên xe xuống ngựa, bất quá trong thời gian ngắn ngủi rồi thôi, có
bền vững chi đâu mà chuốc lấy tội tình, phải chịu luân hồi vay trả, khổ đau lận
đận trên cõi hoạn đồ, kiếp trần ai như phù dung, sớm nở tối tàn chớp nhoáng như
ngựa qua cửa sổ. Hỡi ai là người biết suy điều tội phước, biết luật vay trả
tuần hoàn, mau tỉnh ngộ tầm tu mà trở lại căn xưa vị cũ, hưởng phước thanh nhàn
nơi Bồng lai Tiên cảnh.
THI BÀI
Đêm
thanh tịnh giáng đàn chỉ dạy,
Biết
đường tu cần phải dắt dìu,
Trần
ai là cảnh tiêu điều,
Càng đua chen lấn càng nhiều nghiệp
duyên.
Kêu
đời tỉnh cần chuyên học đạo,
Đời
khổ nguy thấu đáo chăng là!
Giật
mình tỉnh mộng Nam Kha,
Chơn truyền lo học đặng mà thoát nguy.
Kiếp
giả tạm sanh ly tử biệt,
Cảnh
Diêm phù chi xiết thê lương!
Lo
tu trở lại thiên đường,
Lánh nơi lục đạo, khỏi vương khổ sầu.
Người
sanh tử trong bầu giả tạm,
Sự
mất còn có hãn chăng là?
Nhìn
đời như bãi tha ma,
Cung Tiên vui vẻ, điều hòa, đẹp xinh.
Ráng
tu niệm Huỳnh đình lo học,
Đừng
lãng xao khổ nhọc thay là!
Rèn
tâm hai chữ nhẫn hòa,
Gìn câu chủ nghĩa ái tha Đại đồng.
Kìa
vạn vật trong vòng sanh hóa,
Kiếp
luân hồi vay trả, trả vay,
Ham
chi vật chất miệt mài,
Tang thương biến cuộc trở quày mau mau.
Trời
hôm tuyết trắng phau vằng vặc,
Cảnh
điêu tàn như phác họa sơ,
Nhìn
non nhìn nước hững hờ,
Nhìn đời giả tạm, ngẩn ngơ cho lòng.
Lo
học đạo thoát vòng kỳ chót,
Máy
huyền vi chẳng lọt mảy lông,
Làm
sao đến hội Hoa Long,
Thì tường máy tạo hóa công nhiệm mầu.
Cơ
thiên định bể dâu biến đổi,
Người
mau lo tự hối răn lòng,
Rèn
tâm kết chặt giải đồng,
Hiệp chung đoàn thể con Rồng cháu Tiên.
Bực
triết nhân kiền thiềng mộ đạo,
Dụng
tinh thần hoài bão tâm trung,
Ham
chi thế cuộc não nùng,
Trả vay, vay trả, đời cùng đa mang.
Buổi
chiều hôm, sương tan khói tỏa,
Cảnh
điêu tàn phác họa tiêu sơ,
Làm
sao vẹt phá mây mờ?
Cần lo tu niệm huyền cơ đắc thành.
Kìa
trống giục năm canh nhịp trổi,
Tỉnh
giấc nồng nhớ cội căn xưa,
Nương
màu kinh sám tương dưa,
Thoát vòng tục lụy chiều trưa trau mình.
Kỳ
Hạ Nguơn cứu tinh vận chuyển,
Độ
nhơn quần tăng tiến cao siêu,
Biết
tu thì giữ luật điều,
Nên hư cũng độ, cũng dìu dắt theo.
Người
tu phải lên đèo xuống ải,
Kíp
xa đời, trở lại chánh đường,
Gần
đây mở hội khoa trường,
Đem tài thao lược phô trương độ đời.
Nơi
cảnh tạm chơi vơi khổ hải,
Thuyền
từ lo vớt lại cảnh nhàn,
Ráng
cần bước lại nấc thang,
Vượt lên chín phẩm sen vàng khỏe thân.
Đời
là mộng, cõi trần là tạm,
Kiếp
sống thừa thảm đạm hằng ngày,
Tang
thương phải chịu đắng cay,
Cậy tay chí liệt anh tài đỡ nâng.
THI
Nâng
đỡ đời toan bước đạo lo,
Lo
rồi tỉnh ngộ đáng danh trò,
Trò
đời cay nghiệt tua xa lánh,
Lánh
khỏi trần gian tợ lửa lò.
Bần Đạo ban ơn chư phận sự, kiếu.
16.- LƯU
THÔNG CỬU KHIẾU
HUỆ thông chơn nhứt
khiếu,
MINH nguyệt chói Càn
Khôn,
CHƠN tâm truyền đạo
pháp,
TIÊN Thánh khả lưu
tồn.
Lưu
tồn nhị khí đắc kim thân,
Đạo
pháp vô vi tối lạc trần,
Chứng
quả bồ đề quy cựu vị,
Thoát
thai thần hóa diệt mê tân.
Bần Đạo chào chư phận sự nghiêm đàn nghe Bần
Đạo diễn dụ: Đạo thì phải lưu thông nhị khí, âm dương ngưng kết điều hòa thì
đắc sanh ngũ khí triều nguơn, ngũ tạng gồm một mối, tinh, khí, thần, hội hiệp
thì chứng quả vị Phật Tiên.
Nay nhằm buổi mạt hậu chuyển lại cảnh
Thuấn Nghiêu, phục hồi thượng cổ, nền giáo lý quy nguyên mở rộng, tâm truyền
hoát khai chơn pháp, lộ máy huyền cơ, để cho dân sanh trở lại Đào nguyên, khỏi
đắm chìm giữa sông mê bể khổ. Nếu còn mê đắm cõi trần, không hồi tâm tỉnh ngộ
lo học chơn truyền, sẽ hụt kỳ Long Hoa đại hội buổi Thượng nguơn, phải chịu
chìm đắm luân hồi, đến nhị kỳ phổ độ mới có giáo lý phát minh. Vậy Bần Đạo
khuyên sanh linh ráng tập chí phế trần, lo trau giồi linh tánh, vì buổi tam kỳ
phổ độ rộng mở chơn truyền Đại Đạo phục hưng cho nhơn sanh tu niệm, muôn năm
ngàn kiếp mới gặp một lần, may mắn thay cho nhơn loại gặp buổi đại đồng ân xá,
ráng bền chí lo tu, nếu chậm bước e trễ kỳ Long Hoa đại hội.
THI
Long
Hoa treo bảng đợi nhân tài,
Lập
chí tu thân thấy bổn lai,
Mặc
mặc vô tâm trần diệu giáo,
Phản
hườn chơn khí lại Thiên thai.
THI
ĐỘNG ĐÌNH HỒ
Kêu
trần tỉnh mau quày trở bước,
Tỉnh
giấc nồng lần lượt đi mau,
Trời
thu nguyệt trắng làu làu,
Sương sa lác đác điểm màu gấm hoa.
Ráng lo xa,
Diệt tâm tà,
Chớ ngâm nga.
Đời
giả tạm thoát ra cho khỏi,
Thoát
khỏi vòng cương tỏa bao vây,
Màng
chi lớp thịt da nầy,
Xác thân mộng huyễn có gì đẹp xinh.
Xinh
đẹp làm chi khối nhục bì,
Có
thân phải chịu cảnh sanh ly,
Sanh
ly tử biệt càng thê thảm,
Ráng
học đạo mầu giải thoát đi.
Đến
trường thi,
Hội
khoa kỳ,
Chí
nam nhi.
Chí
nam nhi ra thi kỳ chót,
Thi
đức tài bòn mót quả công,
Làm
sao rỡ mặt non sông,
Đạo Cao phổ hóa Tây Đông khắp cùng.
Khắp
cùng Nam Bắc với Đông Tây,
Sửa
dựng đời Nghiêu hưởng đủ đầy,
Đạo
đức lưu thông cùng bốn biển,
Đắc
thành quả vị lại cung mây.
Rõ
đạo Thầy,
Tỉnh
giấc say,
Mau
chơn quày.
Thuyền
Đại Đạo đêm ngày chực rước,
Vớt
quần sanh ráng vượt ái hà,
Ngắm
chừng bể ngạn xông pha,
Đưa về Cực lạc ta bà ngao du.
Ngao
du thong thả cảnh Thiên Đường,
Hưởng
phước trường miên khỏi khổ vương,
Bất
diệt bất sanh an cảnh lạc,
Kêu
trần tỉnh mộng ráng lo bươn.
Nước
nhành dương,
Tắm
gội thường,
Đáo
Tây phương.
Đạo
dạy đời tìm đường diệt khổ,
Thoát
khổ rồi đến chỗ thanh cao,
Kiên
tâm giải phá bốn rào,
Sắc, tài, tửu, khí hằng bao đêm ngày.
Đêm
ngày phanh luyện đạo vô vi,
Đắc
ngộ kim thân thế khả tri,
Yểu
yểu minh minh hồi diện mục,
Hồi
quang phản chiếu lại Tây qui.
Kíp
lần đi,
Chớ
diên trì,
Trễ
hội thi.
Đạo
vô vi cần thi luyện tập,
Hội
tam gia bồi đắp đơn điền,
Ngũ
hành ngũ tạng an nhiên,
Xuất huyền, nhập tẩn từ nhiên đạo thành.
Thành
đạo là nhờ gắng chí tâm,
Dầu
cho khổ trí cũng siêng tầm.
Tầm
cho biết rõ trong nguồn đạo,
Đạo
vẫn là cơ thú vị trầm.
Đạo
cao thâm,
Tại
chữ tâm,
Ráng
sưu tầm.
Tầm
cho đặng huyền thâm chánh giáo,
Diệt
tâm trần mối đạo thông tri,
Hồi
quang phản chiếu vậy thì,
Vô hình, vô ảnh, huyền vi báu mầu.
Mầu
nhiệm, vô trần, thoát cảnh Tiên,
Dạy
đời trở lại cảnh Đào Nguyên,
Thú
vui Tiên cảnh đời chi sánh,
Học
đạo vô vi chứng thượng thiên.
Đắc
Kim Tiên,
Tại
nhãn tiền,
Thú
trường miên.
Trường
miên cảnh lạc vui tâm chí,
Sớm
nghiêu ngao bích thủy non Tần,
Luyện
thành xá lợi kim thân,
Vô phiền, vô não, chơn không Đạo Huỳnh.
Huỳnh
Đạo hoằng khai cứu kẻ mê,
Đắc
thành quả vị lại nhàn quê.
Giã
từ đàn nội, Bần lui gót,
Điển
xuất tiên thiên Lão trở về.
17.- SỐ
TAM NGŨ TRỜI ĐẤT LIÊN ĐỚI
THI
HUỆ đắc huyền vi
xuất đạo mầu,
MINH thừa máy nhiệm
chuyển cao sâu,
CHƠN truyền dạy thế
hồi bổn giáo,
TIÊN tục hồi nguyên
chuyển địa cầu.
Bần Đạo chào chư phận sự, nghe Bần Đạo
giải về vũ trụ quan cùng nhơn thân liên đới cùng nhau. Bầu vũ trụ bao la khắp
cùng càn khôn thế giới, chia ra ba cõi là Thượng giới, Trung giới và Hạ giới.
Chỗ tuyệt đối hư vô, Phật gọi là Tối Đại Niết Bàn, Đạo là Bạch Ngọc Kinh, Thích
gọi là Thiêng liêng, Nho gọi là Nhị Châu, cũng đồng một chỗ tuyệt đối. Hư vô
kia còn có tam thiên, đại thiên thế giới, mênh mông vô cùng vô tận, từ mặt địa
cầu sắp lên trung giới do quả đất các tinh tú ngày đêm châu lưu xây chuyển,
nhựt nguyệt vận hành, âm dương phân định, mới có ngày đêm sáng tối; sáng từ Mẹo
đến Thân, tối từ Dậu đến Dần. Từ Tý tới Tỵ là dương, Ngọ đến Hợi là âm; âm
dương xây chuyển, nhựt nguyệt vận chuyển mới có bốn phương Đông, Tây, Nam, Bắc.
Ngũ hành: kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. Bát quái là: Càn, Chấn, Khảm, Cấn, Tốn, Ly,
Khôn, Đoài.
Trời có tam bửu là: nhựt, nguyệt, tinh;
ngũ khí là đạm khí, dưỡng khí, khoáng khí, hạo nhiên chi khí, huyền khí.
Đất có tam bửu là: thủy, hỏa, phong; ngũ
hành là kim, mộc, thủy, hỏa, thổ.
Người có tam bửu là: tinh, khí, thần. Ngũ
tạng là: tâm, cang, tỳ, phế, thận.
Trời có ba cõi, người có ba hồn; tam bửu
của Trời, đất, người liên đới: 1) của Trời: nhựt là mặt trời, 2) của đất: hỏa
là lửa, 3) của người là thần, là linh hồn, liên quan tại cõi thượng giới; của
Trời là mặt trăng; của đất là gió; khí là giác hồn, liên quan tại cõi trung
giới; của Trời: tinh là sao; của đất; thủy là nước; của người: tinh là tinh ba
là vật chất, là mê hồn, liên quan tại hạ giới.
Ngũ khí, ngũ hành, ngũ tạng liên đới:
Của Trời: khinh khí; của đất là mộc; của
người là cang, liên đới. Của Trời là dưỡng khí; của đất là thổ; của người là
bao tử, liên đới. Của Trời là khoáng khí; của đất là kim; của người là phổi,
liên đới. Của Trời là huyền khí; của đất là thủy; của người là thận thủy (trái
cật) liên đới.
Tam ngũ của Trời, đất, người liên quan với
nhau, nếu muốn thành Tiên, tác Phật, thì phải học pháp tối thượng chơn truyền,
luyện quy tam ngũ thì thấy thành chẳng sai. Sơ nhứt chuyển luyện cho tinh hóa
khí, điều hòa thân tâm an lặng. Sơ nhị chuyển bế ngũ quan, điều thần hiệp khí.
Sơ tam chuyển khử trược lưu thanh, hậu thiên ngưng giáng, thần khí giao thông,
thân thể nhẹ nhàng linh hồn minh huệ, cách vật trí tri, mỗi sự vật dưới thế
gian nầy đều hiểu biết, ấy là bá nhựt trúc cơ, đắc thọ tam kỳ đến thập ngoạt
hoài thai, hoàn thành nhứt bộ, xuất hiện dương thần, triều ngươn ngũ khí thì
chứng cảnh không. Sang tứ chuyển mạch máu lưu thông điều hòa thái tức. Ngũ
chuyển nhũ bộ tam niên, hườn hư vô cực. Lục chuyển thân tâm đều bất động, vô
thân, vô thể, vô tâm, vô cấu, mỗi việc điều không, đắc thành nhị bộ, xuất thông
giáo lý, mở khiếu nhãn quan, các hiện tượng trên cõi siêu hình nơi trung giái
đều thấy hết, ấy là chứng thiên nhãn, thiên nhĩ thông. Sang thất chuyển hạo
nhiên thường trụ, tam hoa tụ đảnh nê hườn, cổi rồi bảy thể, xuất hình thân
ngoại hữu thân, nhưng phải nuôi thần nơi Côn lôn đảnh. Sang bát chuyển, đắc ngũ
thông túc mạng, cửu niên diện bích, luyện thần hườn hư. Qua cửu chuyển luyện hư
hườn vô thì đắc lục thông, lậu tận, chứng quả Đại Giác Kim Tiên, đơn thơ chiếu
triệu, về nơi Bạch Ngọc chứng quả Bồ đề, cùng chư Phật đồng giai, bất sanh bất
diệt nơi Tối đại Niết Bàn, pháp hiệp tam bửu, ngũ hành, ngũ tạng, luyện cho ba
nhà hiệp một kết thành anh nhi xá lợi. Bởi xác thân con người là tứ đại giả
hiệp, mộng huyễn như bào ảnh, lúc không hồi có, nào có lâu dài bền bĩ, linh hồn
mượn nó một thời gian trên cõi tạm để trả rồi nghiệt quả, thì nó phải tan ra
thể chất, còn linh hồn trở lại cảnh hư vô. Nếu muốn cho đặng trường sanh bất
diệt, thì cần lo tu luyện cho đắc kim thân bất hoại, vĩnh kiếp trường tồn, về
nơi Đào nguyên Tử phủ. Nay nhằm buổi Hạ nguơn, Tam kỳ mạt hậu, Đại đạo phục
hưng, nên Bần Đạo lộ gần hết chơn truyền, để cho nhơn sanh ai là người hữu căn,
mau tỉnh ngộ, lo tu tâm pháp bí truyền, cho đặng Thánh thai, Phật tử chẳng uổng
kiếp sanh tiền cõi tạm.
THI
Đào
Nguyên là chỗ hội linh căn,
Học
đạo thì tua ráng nắm phăng,
Trưa
sớm chiều khuya không nản chí,
Công
phu đắc ngộ đặng phi thăng.
THI BÀI
Trong
thân thể khóa chìa của đạo,
Người
biết tu huờn đáo vị xưa,
Chia
ra cửu phẩm tam thừa,
Tùy căn chỉ giáo cho vừa nhơn sanh.
Khuyên
gắng chí thực hành chơn đạo,
Luyện
chơn thần huờn đáo hư vô,
Do
nơi thái cực Hà đồ,
Luyện tinh hóa khí điểm tô Nguơn thần.
Sửa
thân thể ân cần hôm sớm,
Diệt
thất tình trí đởm an nhiên,
Ngày
đêm để dạ kiền thiền,
Công phu giồi luyện hạo nhiên tương
đồng.
Cặp
mắt thì lưu thông võ trụ,
Phải
hồi quang phản chiếu luôn luôn,
Soi
trong thân thể y khuôn,
Đừng ham vật chất là tuồng bụi nhơ.
Tai
để lóng huyền cơ đạo chuyển,
Tịnh
chơn thần, huờn biến đạo Cao,
Châu
lưu thân thể ra vào,
Khí tinh lên xuống một màu châu thiên.
Vận
đại dược đơn điền nung nấu,
Để
tai nghe xông thấu Nê huờn,
Vận
hành nhựt nguyệt tam quang,
Hống diên ngưng kết vượt thoàn về
nguyên.
Mũi
thì ngửi hạo nhiên chi khí,
Khiếu
điều hòa vận khí đem lên,
Đem
lên khai xuất Nê huờn,
Xung thiên mãn địa huờn đơn kết thành.
Lưỡi
để nếm mùi thanh cam thủy,
Nước
Cam lồ huyền bí Ma ha,
Chơn
răng đượm ngọc điều hòa,
Khảm ly ký tế, hà xa xây tròn.
Yểu
yểu minh đài soi mờ mịt,
Phải
điều hòa diện bích cửu niên,
Xuất
huyền, nhập tẩn châu thiên,
Là cơ siêu thoát tiên thiên phục hồi.
Còn
xác thân là ngôi độc nhứt,
Phải
bền tâm chịu cực chớ lơi,
Cần
tu bốn buổi y thời,
Công phu cửu chuyển do trời vượt lên.
Người
nếu muốn cho nên học đạo,
Phải
biết trần quả báo lánh xa,
Gìn
tâm hai chữ nhẫn hòa,
Chơn truyền thọ ký, thoát mà lao lung.
THI
Lao
lung là chỗ khám trần duyên,
Nhốt
cả quần sanh khó thoát miền,
Vật
chất say mê trên cõi tạm,
Khó
mong đắc kiếp lại Đào Nguyên.
Đào
Nguyên khuyên thế bước lần đi,
Học
đạo thì tua hiểu trí tri,
Cách
vật quan tường cho thấu đáo,
Tâm
thành đắc đạo chiếu quang huy.
Quang
huy thử thị khiếu huyền môn,
Thượng
đắc chơn tinh chiếu độc tồn,
Chuyển
vận khí thần quy cơ thể,
Giã
từ phận sự, lại Côn Lôn.
No comments:
Post a Comment