Thursday, January 21, 2016

18.- GIẢI VỀ LỤC ĐẠO LUÂN HỒI LUẬT TẤN HÓA VÀ THỐI HÓA



18.- GIẢI VỀ LỤC ĐẠO LUÂN HỒI
LUẬT TẤN HÓA VÀ THỐI HÓA

THI
HUỆ chiếu kim quang giáng cõi trần,
MINH truyền đạo lý độ toàn dân,
CHƠN như êm tịnh cơ mầu diệu,
TIÊN tục cần tu đắc vị phần.
      Bần Đạo chào chư phận sự, nghe Bần Đạo giải về cơ tấn hóa và thối hóa. Sự tiến hóa của vật chất mắt phàm không bao giờ thấy được. Đó là luật thiên nhiên, có tu đắc đạo mới hiểu cơ tấn hóa từ các khoáng vật kim khí: sắt, đá, vàng, bạc, chì, thau, thảo mộc cũng chịu muôn vàn kiếp mới trở lại thành nhơn, ban đầu còn dã man khờ dại, chưa đặng văn minh, lần lần học hỏi trau giồi nhiều kiếp, có kinh nghiệm trên cõi đời, suốt thông giáo lý cơ mầu, mới có xả thân hành đạo; nhiều kiếp lập công quả độ đời, đầy đủ đạo đức mới gặp chơn truyền tu luyện mà chứng bực thần tiên, hưởng tiêu diêu khoái lạc, bất diệt, bất sanh nơi Bồng lai tiên cảnh, vĩnh kiếp trường tồn. Nhưng còn những cơ thối hóa. Bực nguyên nhân đọa xuống phàm vì mê mùi chung đỉnh, bả vinh hoa phú quí, vợ tốt hầu xinh, nhà cao cửa rộng nên quên mất tánh trời, gây nhiều tội lỗi hưởng hết kiếp giàu sang rồi thì thối hóa xuống bực nghèo hèn vất vả, chịu cực khổ, nếu không tỉnh ngộ, cải ác tùng lương mà tu hành, còn gây thêm nghiệp quả nữa, thì kiếp sau phải chịu tật nguyền, lần lần mất hẳn tính trời là lương tri lương năng, rồi mất luôn tới nhơn thân, trở qua cầm thú, lần xuống thảo mộc, rồi thành ra các kim khí như vàng, bạc, chì v.v... cũng trở lại huờn nguyên. Bởi vậy cho nên cơ tấn hóa và cơ thối hóa là cái thang máy của kiếp luân hồi, ngàn năm muôn kiếp không bao giờ gián đoạn, cứ xây tròn trong lục đạo luân hồi sáu nẻo là: phú, bần, thai, noãn, thấp, hóa, hai đường làm người, bốn đường làm vật, gọi là tứ sanh:
      1) Loài đẻ con như trâu, bò, heo, chó.
      2) Loài đẻ trứng như gà, vịt, chim, cò, là loài có lông.
      3) Thấp sanh là sâu bọ, cua, rùa, rắn, là loài dưới nước.
      4) Hóa sanh là trùng, dế, kiến, bọ, là loài ở dưới đất gọi chung là lục đạo luân hồi.
      Vậy người sanh trên cõi tạm, hữu phước đặng làm người, còn là người khó đặng đạo. Nay nhằm buổi Tam kỳ khai hóa, chuyển lại cảnh Thuấn Nghiêu, phục hưng nền giáo lý, vậy thì nhơn loại ấy làm hữu phước đã đặng làm người, mà cũng gặp kỳ khai đạo, thì hữu hạnh biết là bao, nếu chẳng lo tu để hụt kỳ đạo mở, thì chìm đắm mãi trong kiếp luân hồi, biết bao giờ trở lại ngôi xưa vị cũ.
THI
Kiếp đọa trần duyên sớm trả xong,
Trả rồi thì đến hội Long Hoa,
Phục quy thượng cổ đời an hưởng,
Hưởng phước trường niên khỏi não lòng.
THI BÀI
      Chuông cảnh tỉnh kêu trần mộng ảo,
      Kíp mau chơn huờn đáo hư vô,
            Khuyên ai chớ khá mơ hồ,
Đường tu trễ bước, phong đô đến gần.
      Ngày đêm phải ân cần học đạo,
      Học đạo rồi hòa hão nhơn sinh,
            Tiên thiên bổn tánh đạo huỳnh,
Vô vi bí pháp huyền linh chơn truyền.
      Đời giả tạm ảo huyền mấy lát,
      Ráng lần theo tu tắt đặng về,
            Công phu tịnh dưỡng chớ xê,
Dạy dân sanh tỉnh trở về đàng tiên.
      Biết đạo rồi tự nhiên vui thú,
      Học đạo rồi ký chú linh căn,
            Chơn truyền tua khá tầm phăng,
Ngày đêm phanh luyện, siêu thăng linh hồn.
      Nhìn lại thấy ba dân khổ nạn,
      Tìm phương châm chánh đáng dạy truyền,
            Cứu đời thoát khỏi oan khiên,
Về miền Cực lạc Đào nguyên vui nhàn.
      Nơi cõi tạm sớm than chiều khóc,
      Cảnh điêu tàn lừa lọc nhơn sanh,
            Khuyên ai gắng chí nhiệt thành,
Cơ quan giả tạm mau hành đạo Cao.
      Kìa sấm dậy Bắc phương nhao nhố,
      Hởi quần sanh tìm chỗ ẩn vi,
            Bền tâm học đạo vô vi,
Chơn truyền dạy thế đường đi siêu phàm.
      Phải biết cách quy tam hiệp ngũ,
      Hiệp ngũ rồi hội đủ đông tây,
            Lo tu giải thoát kiếp nầy,
Quy nguyên nhứt thống đạo THẦY truyền ban.
      Ngày kết cuộc rỡ ràng tên tuổi,
      Máy thông huyền hiệp hội linh căn,
            Dạy cho rõ biết đạo hằng,
Biết đường siêu thoát tầm phăng chơn truyền.
      Đời phải chịu truân chuyên nhao nhố,
      Đắm mê trần càng khổ cho thân,
            Cơ quan khuyến học ân cần,
Dạy cho biết đạo hồng ân ban truyền.
      Đời giả tạm ảo huyền giấc mộng,
      Càng mê mang khổ thống càng nhiều,
            Trời hôm cảnh vật đìu hiu,
Dế ngâm rỉ rả dường khêu ngọn sầu.
      Ba dân ở trong bầu vũ trụ,
      Lắm truân chuyên chịu đủ gian lao,
            Gìn câu đạo đức một màu,
Lo tu giải thoát bốn rào bao vây.

THI
Ban truyền mối đạo cứu nhân sanh,
Đạo pháp vô vi máy nhiệm hành,
Thế sự chưa tường câu liễu tử,
Cần tu lánh trược đặng siêu sanh.
Miếng mồi chung đỉnh hại sanh linh,
Học đạo thì tua khá giữ gìn,
Gìn giữ chân truyền đừng sơ lậu,
Giã từ phận sự tại Tây Kinh.

19.- TỨ GIÁO THẤT CHƠN TRUYỀN

THI
HUỆ đức ban ra khắp thế gian,
MINH tường chân tánh tại Tây phang,
CHƠN nguơn thanh tịnh gồm Tam bửu,
TIÊN xuất thần quang tại Niết bàn.
      Bần Đạo chào chư phận sự, tịnh tâm nghe bần đạo thuyết minh về TỨ GIÁO THẤT CHƠN TRUYỀN, cho người đời tìm hiểu để biết tà chánh, hầu đi đến hội Đại Đồng Tôn giáo không có phân các triết lý dưới trần gian gồm tinh ba lại một để làm triệu chứng, đủ kinh nghiệm hoàn toàn cho nhân loại đủ đức tin mà học hỏi. Từ trước đến giờ có Tam Giáo Thánh Nhân hoằng khai dạy Đạo, tùy theo phong trào thời đại mà thuyết lý phổ thông, cho dân sanh tỉnh ngộ.
      Tiên Giáo có Lão Tử lâm phàm thuyết hư vô hoằng khai đạo pháp để dạy đời, lần lần nhân sanh sai lạc, dùng bùa chú của Tiên gia mà trừ tà ếm quỉ, bày binh bố trận đồng cốt lăng xăng, làm mất chơn truyền Tiên Giáo.
      Phật Thích Ca giáng sanh nhằm thời Trung Cổ tại Ấn Độ, đời nhà Châu vua Chiêu Dương, dùng thuyết vô vi chơn truyền dạy đạo đắc thành xá lợi kim thân, dân sanh thành Phật cũng nhiều. Rồi cũng vì danh lợi câu nhử nhân tâm xa lần chánh giáo, bày ra thinh âm sắc tướng, chuông mỏ kệ kinh, lầu kho công khố, lý chơn mờ mịt, hành theo Tiểu Thừa, tụng kinh cúng dường hằng ngày chớ tâm pháp chơn truyền đều mất hết.
      Nho Giáo có Khổng Tử lâm phàm nhằm đời Đông Châu Liệt Quốc, quy nguyên nhằm buổi loạn ly, vua yếu, tôi mạnh, giặc giã lan tràn, năm giềng xiêu đổ. Sang Trần qua Thới, mở đạo dạy dân cho biết giềng mối Ngũ luân: vua tôi, cha con, chồng vợ, anh em, bậu bạn, tình nghĩa làm đầu. Nho Giáo thạnh hành một lúc, rồi dân sanh lần xa đạo lý, dùng chữ học hành thi phú để ra làm quan, mê sa vật chất, làm sai lạc lý chánh Nho gia.
      Bên Tây Phương có Thánh Đạo ra đời, Jésus giáng sanh dạy đạo khắp cả năm châu.
      Nay nhằm buổi Hạ nguơn, thời kỳ mạt kiếp, bốn nền chân giáo đã thất kỳ truyền, dân sanh không phù hạp. Thời đại đương kim, dân sanh xu hướng theo đường văn minh vật chất, không còn biết chi đến luật Trời, cơ báo ứng, dùng khoa học mà chế ra các thứ máy móc tối tân, cơ khí để tàn sát lẫn nhau mà giật giành non sông đất nước thành ra núi xương sông máu, nên Cao Đài Giáo dùng thuyết Trung Hòa tùy theo trình độ trào lưu của dân tộc mà dạy Đạo tại xứ Việt Nam, mở rộng chơn truyền phổ thông giáo lý cho dân Việt Nam noi theo tu hành, rồi lần lần truyền ra khắp năm châu cho nhân sanh hưởng ứng.
THI BÀI
KHOÁN THỦ
      Cao siêu lắm huyền vi đạo pháp,
      Đài giáo dân phù hạp kỳ ba,
            Tôn nghiêm tức lý dung hòa,
Giáo khai tôn pháp cải tà quy chân.
      Thuyết chơn lý nghe đờn tỉnh mộng,
      Minh cơ mầu đổ trống giác mê,
            Dạy dân thức tỉnh đề huề,
Cơ thiên đã định quay về Thượng nguơn.
      Siêu ba cõi tuần hoàn chuyển lập,
      Thoát ngoài vòng dồn dập sông mê,
            Thần Tiên chỉ ngõ quay về,
Tinh tường triết lý điểm đề quần sanh.
      Gom nhau lại lập thành quốc đạo,
      Vào trường thi đốn giáo thượng thừa,
            Mau lo trở bước kẻo trưa,
Toan lo đến bến đò xưa vượt ngàn.
      Giải tứ tường tan hoang bốn vách,
      Phá thành sầu phủi sạch phàm tâm,
            Bốn tường vây chặt tối tăm,
Rào chung nhân loại giam cầm mê mang.
      Gìn đạo đức nắm phăng hưởng ứng,
      Tròn tâm cang sửa dựng cuộc đời,
            Quy gồm đạo đức năm nơi,
Giới răn gìn trọn luật Trời không vương.
      Giồi bửu pháp là đường diệt khổ,
      Trau Nguơn thần tìm chỗ an nhàn,
            Tâm trung mở khiếu huyền quang,
Tình đời mộng ảo chớ màng chớ mê.
      Ngày đắc đạo dựa kề Tiên vị,
      Đêm cần lo luyện kỹ trúc cơ,
            Học thông máy nhiệm đơn thơ,
Tập rèn cơ thể huyền cơ sẽ tường.
      Sửa bổn tánh thuần dương êm lặng,
      Mình ngồi ngay mắt nhắm vào trong,
            Diệt thông quá khứ mộng lòng,
Trừ tâm hiện tại ước mong hoang đường.
      Lục thông suốt tỏ tường minh huệ,
      Dục lửa lòng tâm để an nhiên,
            Thất muôn niên lẻ Đạo truyền,
Tình trường bể loạn mau liền thoát ra.
      Tâm tỉnh ngộ ái hà diệt tận,
      An một lòng tinh tấn hôm mai,
            Trần gian là chốn đọa đày,
Ai người tỉnh ngộ kiếp nầy cần lo.
      Đổi Lạc thơ Hà đồ đắc đạo,
      Lại Non bồng chơn đạo ngao du,
            Thiên nhiên cảnh lạc trời thu,
Đàng tiên nẻo Phật công phu tỏ tường.
      Vô vi Đạo là phương thoát tục,
      Phiền ba đời giục thúc mê say,
            Vô duyên phải chịu đọa đày,
Não nhơn xa lánh thiện tài lần lên.
      An nhiên hỡi! Lòng bền son sắt,
      Nhàn thì lo chỉ dắt theo Thầy,
            Thanh thanh nguyệt lặn về Tây,
Tân dân sửa lại gặp ngày Thuấn Nghiêu.
      Xa cảnh khổ, tiêu điều thê thảm,
      Mùi trần ai giả tạm chớ say,
            Chung lo đạo đức cho đầy,
Đỉnh trần vội giục là ngày biến thiên.
      Đai một bầu hạo nhiên chi khí,
      Cân đại thừa huyền bí hư vô,
            Giác minh tránh khỏi mê đồ,
Quang huy chói rạng điểm tô Nguơn thần.
      Êm như nước trong ngần không dợn,
      Lặng trang bằng chẳng dợn, chẳng xao,
            Tinh tường giáo lý thanh cao,
Thần quang phản chiếu giồi trau đắc thành.
      Phát tâm nguyền đường lành bước đến,
      Minh cơ mầu thoát bến mê tân,
            Quy nguyên lại một tinh thần,
Y như khuôn mẫu sửa lần chơn tâm.
      Tam bửu là huyền thâm báu trọng,
      Bửu châu linh gióng trống ba hồi,
            Ngũ châu rõ biết đạo Trời,
Hành y nhứt luật gặp đời thuần phong.
      Sang Thượng cổ con Hồng an hưởng,
      Qua Tam kỳ bành trướng Nhơn hoàng,
            Nhị châu sắp đặt lớp lang,
Bộ dân giáo hóa Nam Bang gội nhuần.
      Đắc đại đạo ba dân vui vẻ,
      Thành Nam giồi cực thượng viên minh,
            Đạo là quy hiệp khí tinh,
Chơn truyền thọ ký, Huỳnh đình rèn tu.
      Dầu khô cạn đèn lu phải tắt,
      Cho chơn thần bế tắc đơn đài.
            Cực lòng mựa chớ đơn sai,
Khổ tâm ráng chịu đôi ngày siêu thăng.
      Chi vô vi hóa hoằng dạy thế,
      Sờn tấc gang chớ để lưng vơi,
            Âm dương ngưng kết hạp thời,
Dương sanh âm tận, số trời định phân.
      Tương dưa giữ ân cần chớ đổi,
      Hiệp đơn điền tứ cội Tam gia,
            Triều thiên bái Phật ta bà,
Nguơn ba sửa dựng đạo nhà thạnh hưng.
      Diên hống kết coi chừng dè dặt,
      Thành đạo rồi sẽ đắc kim thân,
            Tam hoa tụ đảnh xuất thần,
Hoa khai thấy Phật, lại gần Ngọc kinh.
      Xuất thánh thai thần tinh gom một,
      Hiện kim quang đến tột mây lành,
            Tam tinh hóa hiện đường lành,
Thanh thanh vi diệu đắc thành tiên gia.
      Càn tam liên chia ba thượng hạ,
      Khôn âm thầm sáu ngã luân hồi,
            Luân hồi muôn kiếp nổi trôi,
Chuyển luân quanh lộn muôn đời khó ra.
      Vận châu thiên quây mà bánh pháp,
      Hành nội công tương tiếp điểm mầu,
            Châu lưu chơn khí tóm thâu,
Thân tâm đắc ngộ, đạo mầu minh quang.
      Lão chỉ dạy trung đàn phận sự,
      Từ tâm lo gìn giữ cơ quan,
            Giã thân cõi tạm chớ màng,
Kiếu từ phận sự vượt thoàn về Tây.

No comments:

Post a Comment